- Thời hiệu khởi kiện là gì?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Khi thời hiệu kết thúc, chủ thể có thể bị mất quyền khởi kiện, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện và thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Căn cứ Điều 154 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:“Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhấn mạnh Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.
Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự, Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Riêng đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc giao dịch giả tạo thì theo khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế.
Trong lĩnh vực thương mại, Điều 319 Luật Thương mại 2005 quy định thời hiệu khởi kiện là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Ngoài ra, một số lĩnh vực chuyên ngành khác sẽ có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện. Điều này cho thấy pháp luật hiện hành không xây dựng một cơ chế thời hiệu thống nhất tuyệt đối mà có sự phân hóa tùy theo tính chất của từng quan hệ pháp luật.
Song song với việc quy định thời hạn khởi kiện, pháp luật dân sự còn ghi nhận các trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của các chủ thể. Nội dung này được quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 và được áp dụng thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại.
Theo đó, pháp luật chỉ loại trừ thời gian khỏi thời hiệu trong những trường hợp có căn cứ rõ ràng, gắn với khả năng thực tế của chủ thể trong việc thực hiện quyền khởi kiện.
Thứ nhất, khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến người có quyền khởi kiện không thể khởi kiện thì không tính vào thời hiệu. Sự kiện bất khả kháng là những sự kiện xảy ra khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết. Trong khi đó, trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;. Việc loại trừ khoảng thời gian này thể hiện nguyên tắc công bằng, tránh việc chủ thể mất quyền khởi kiện trong khi hoàn toàn không có khả năng thực hiện quyền.
Thứ hai, khoản 2 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời gian người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà chưa có người đại diện thì không tính vào thời hiệu khởi kiện. Quy định này nhằm bảo vệ các chủ thể yếu thế, bởi nếu thời hiệu vẫn tiếp tục trôi qua thì quyền khởi kiện có thể bị mất trong khi họ không có khả năng tự mình xác lập hoặc thực hiện quyền tố tụng.
Thứ ba, khoản 3 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục ghi nhận trường hợp chưa xác định được người đại diện do người đại diện chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc vì lý do chính đáng khác thì khoảng thời gian này cũng không tính vào thời hiệu. Quy định này nhằm bảo đảm tính liên tục của quyền khởi kiện, tránh tình trạng thời hiệu vẫn trôi qua dù trên thực tế không tồn tại chủ thể có đủ điều kiện pháp lý để đại diện thực hiện quyền.
Có thể thấy, các quy định về thời hiệu và thời gian không tính vào thời hiệu được xây dựng nhằm cân bằng giữa yêu cầu ổn định của quan hệ pháp luật với việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của các chủ thể trong đời sống dân sự và thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định thế nào là “biết hoặc phải biết quyền lợi bị xâm phạm” hay thế nào là “trở ngại khách quan” vẫn còn phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến không ít quan điểm trái chiều trong quá trình áp dụng pháp luật.
